Pages

    Được tạo bởi Blogger.

You are here: Home »

Khi đã biết yêu một thành phố nào đó, Hà Nội, Sài Gòn… hay bất cứ nơi nào khác, bạn sẽ có cơ hội trải nghiệm những nét đẹp đa dạng của văn hóa các miền. Điều đó sẽ giúp bạn tiến xa trong cuộc sống. Giờ đã đến lúc để bạn thử trải nghiệm... 

Mới đây, một bộ ảnh đồ họa có tên “The Difference Between Hanoi and Saigon” (Sự khác biệt giữa Hà Nội và Sài Gòn) của tác giả Lê Duy Nhất (27 tuổi) đã gây ấn tượng lớn với cư dân mạng Việt Nam. Dù mới ra mắt vào ngày 15/4 vừa qua nhưng bộ ảnh đã thu hút hàng chục nghìn lượt xem. 

Trong bộ ảnh này, tác giả Lê Duy Nhất đã mô tả sự khác biệt giữa Hà Nội và Sài Gòn một cách ấn tượng, cô đọng, xúc tích nhất dựa trên những cảm nhận và trải nghiệm của bản thân. 

Anh đã sống và làm việc tại Sài Gòn được hơn 10 năm, cũng đã từng ra Hà Nội một thời gian. Trải nghiệm sống ở cả hai thành phố khiến anh muốn “làm một điều gì đó” và bộ ảnh đồ họa này chính là sản phẩm. 


Bạn đã bao giờ đến Hà Nội? 


Bạn đã bao giờ đến Sài Gòn? 


Mình hãy cùng tìm hiểu. 


Có rất nhiều quán hàng rong trên đường phố, Hà Nội đặc trưng với những “gánh gánh gồng gồng”. Sài Gòn có nhiều chiếc xe đẩy. 


Hà Nội có những “cửa hàng hoa di động” là những mẹt hoa đặt trên yên xe đạp. Người Sài Gòn thường tìm ra các cửa hàng hoa để mua. 


Mâm ngũ quả ngày Tết của người dân hai miền cũng rất khác nhau. Người Hà Nội chuộng chuối, bưởi, đào, hồng, quất. Người Sài Gòn ưa mãng cầu, dừa, đủ, xoài, sung. 


Mùa xuân, Hà Nội rực hồng sắc đào, Sài Gòn rạng rỡ sắc mai. 


Người Hà Nội thích ăn ở những quán vỉa hè với bàn ghế nhựa rất “cơ động”. Người Sài Gòn thường vào quán. 


Bữa sáng của người Hà Nội khá đầy đặn, no nê. Người Sài Gòn đôi khi một tách cà phê cũng xong một bữa sáng. 


Ngồi xuống mâm cơm của người Hà Nội, khách sẽ thấy rộn rã tiếng mời cơm. Người Sài Gòn không quy định phép tắc này trong gia đình. 


Một bữa trưa nhanh gọn? Hà Nội có món bún chả, Sài Gòn có món cơm tấm. 


Người Hà Nội ưa các vị mặn, chua và đắng hơn người Sài Gòn. Người Sài Gòn hảo ngọt và cay hơn người Hà Nội. 


Hà Nội và ly trà nóng. Sài Gòn và ly cà phê sữa đá. 


Người Hà Nội thích trà chanh “chém gió”. Người Sài Gòn thích cà phê bệt “buôn dưa”. Đặc biệt, người Sài Gòn rất yêu văn nghệ, nếu ngồi ở một quán cà phê bệt và tình cờ bắt gặp một anh chàng mang ghita ra đệm hát, đừng ngạc nhiên, đó là “chuyện thường ngày ở huyện”. 


Người Hà Nội tiếp khách quý bằng trà ngon. Người Sài Gòn đãi khách nước khoáng hoặc nước ngọt. 


Ở Hà Nội, có những cơn mưa kéo dài cả ngày, thậm chí từ ngày này sang ngày khác. Ở Sài Gòn, mưa đấy rồi lại nắng ngay. 


Người Hà Nội khá quan trọng lễ nghi phép tắc cũng như địa vị xã hội, “cấp trên – cấp dưới”. 


Sự khác biệt trong giọng nói của người Hà Nội và người Sài Gòn? Hãy hình dung sự khác biệt giữa dương cầm và vĩ cầm. 


Trong tư duy cũng như cách ứng xử, người Hà Nội đề cao sự khéo léo, mềm mại. Người Sài Gòn coi trọng sự thẳng thắn, dễ hiểu. 


Mũ của các chiến sĩ cảnh sát giao thông tại Hà Nội và Sài Gòn rất khác nhau. 


Cỗ cưới ở Hà Nội thường vào buổi trưa. Ăn cưới ở Sài Gòn thường vào buổi tối. 


Người Hà Nội thường hẹn hò, ăn nhậu từ sau khi tan làm và sẽ về nhà trước giờ đi ngủ. Người Sài Gòn có thể ăn nhậu thâu đêm bởi nơi đây là “thành phố không bao giờ ngủ”. 


Người Hà Nội dường như thức dậy sớm hơn người Sài Gòn. 


Taxi 4 chỗ thông dụng ở Hà Nội, taxi 7 chỗ thông dụng ở Sài Gòn. 


Người Hà Nội vốn nổi tiếng quan trọng hình thức. Vì vậy, họ rất coi trọng chiếc xe mình đi. Người Sài Gòn khá xuề xòa trong chuyện này. 


Người Hà Nội khi ra đường áo quần phải chỉn chu, lịch sự. Người Sài Gòn đề cao sự tiện lợi, thoải mái. 


Hà Nội có hồ Hoàn Kiếm. Sài Gòn có hồ Con Rùa. 


Tắc đường là điểm chung của cả hai thành phố nhưng người Hà Nội có vẻ len lách giỏi hơn và ô tô ở Hà Nội cũng thích rình rang ra làn giữa nhiều hơn. 


Đôi khi, sự nhộn nhịp, hối hả, sự chen lấn, xô đẩy khiến tôi như phát điên. Nhưng cứ để ý mà xem, cùng vội vã nhưng người Hà Nội vẫn có nét gì đó thong dong, đủng đỉnh. 


Những món đồ khiến người Hà Nội và người Sài Gòn hoài cổ cũng rất khác nhau. 


Khi đã biết yêu một thành phố nào đó, Hà Nội, Sài Gòn… hay bất cứ nơi nào khác, bạn sẽ có cơ hội trải nghiệm những nét đẹp đa dạng của văn hóa các miền. Điều đó sẽ giúp bạn tiến xa trong cuộc sống. Giờ đã đến lúc để bạn thử trải nghiệm. 
 

                                                                                                           nguồn : Dân trí


Đã bao giờ bạn tự hỏi thành công là gì mà bao kẻ bỏ cả cuộc đời mình theo đuổi? Phải chăng đó là kết quả hoàn hảo trong công việc, sự chính xác đến từng chi tiết? Hay đó là cách nói khác của từ thành đạt, nghĩa là có được một cuộc sống giàu sang, được mọi người nể phục?
bí quyết thành công, bài học thành công, ý nghĩa cuộc sống
Vậy thì bạn hãy dành chút thời gian để lặng mình suy ngẫm. Cuộc sống sẽ chỉ cho bạn có những người đạt được thành công theo một cách giản dị đến bất ngờ. Thành công là khi bố và con trai có dũng khí bước vào bếp, nấu những món ăn mẹ thích nhân ngày 8-3. Món canh có thể hơi mặn, món cá sốt đáng lẽ phải có màu đỏ sậm thì lại ngả sang màu… đen cháy.

Nhưng nhìn mâm cơm, mẹ vẫn cười. Bởi vì hai bố con không thể thành công trên “chiến trường” bếp núc, nhưng lại thành công khi tặng mẹ “đoá hồng” của tình yêu. Một món quà ý nghĩa hơn cả những món quà quý giá, hạnh phúc ấy long lanh in trong mắt mẹ.

Thành công còn là hình ảnh một cậu bé bị dị tật ở chân, không bao giờ đi lại bình thường được. Từ nhỏ cậu đã nuôi ước mơ trở thành cầu thủ bóng đá. Sau bao nỗ lực khổ luyện, cậu bé trở thành cầu thủ dự bị trong một đội bóng nhỏ, và chưa bao giờ được chính thức ra sân. Nhưng đó không phải là thất bại. Trái lại, thành công đã nở hoa khi cậu bé năm xưa, với bao nghị lực và quyết tâm, đã chiến thắng hoàn cảnh để theo đuổi ước mơ từ ngày thơ bé. Thành công ấy liệu có mấy người đạt được?

Sau mỗi mùa thi đại học, có bao “sĩ tử” buồn rầu khi biết mình trở thành “tử sĩ”. Hai bảy điểm, cao thật đấy. Nhưng cao mà làm gì khi nguyện vọng 1 lấy tới hai bảy phẩy năm? Đó thật ra không phải là thất bại, chỉ là khi thành công - bị - trì - hoãn mà thôi. Cuộc sống vẫn chào đón họ với nguyện vọng 2, nguyện vọng 3. Quan trọng là họ đã nỗ lực hết sức để khẳng định mình. Đó là ý nghĩa vẹn nguyên của các kỳ thi, và cũng là bản chất của thành công.

Ngày còn nhỏ, tôi đã được đọc một câu chuyện rất xúc động. Chuyện kể về một cậu bé nghèo với bài văn tả lại mẹ - người phụ nữ đã che chở cuộc đời em. Cậu bé viết về một người mẹ với mái tóc pha sương, với đôi bàn tay ram ráp nhăn nheo nhưng dịu hiền và ấm áp. Cậu kết luận rằng: bà ngoại là người mẹ - người phụ nữ đã nâng đỡ em trong suốt hành trình của cuộc đời. Bài văn lạc đề, phải về nhà viết lại. Nhưng đó mới chính là một tác phẩm thành công, bởi ở đó chất chứa tình yêu thương của đứa cháu mồ côi dành cho bà ngoại. Liệu có thành công nào, tình cảm nào thiêng liêng hơn thế?

Nhiều năm trước, báo chí từng vinh danh một cậu học trò nghèo thi đậu đại học với vị trí thủ khoa. Đối với cậu, đó là một thành công lớn. Nhưng có một thành công khác, lặng thầm mà lớn lao, đó là chiến thắng của một người cha gần 20 năm trời đạp xích lô nuôi con ăn học. Bao niềm tin và hi vọng hiện lên trên gương mặt vốn đã chịu nhiều khắc khổ. Và ngày con trai đậu đại học cũng là ngày tốt nghiệp khoá - học - của - một - người - cha.

Tôi biết có một nữ sinh tốt nghiệp đại học với tấm bằng loại ưu gần hai mươi năm trước. Với tài năng của mình, cô có thể gặt hái thành công trên con đường sự nghiệp và danh vọng. Nhưng cô sinh viên năm ấy đã chấp nhận hy sinh những cơ hội của đời mình để trở thành một người vợ đảm đang, một người mẹ dịu hiền của hai cô công chúa nhỏ.

Cho tới bây giờ, khi đã là một phụ nữ trung niên, mẹ tôi vẫn nói với tôi rằng: “Chăm sóc bố và hai con chu đáo, đối với mẹ đã là một thành công lớn”. Mỗi khi nghe câu nói ấy, tôi lại rơi nước mắt. Gia đình là hạnh phúc, là thành quả đẹp đẽ của đời mẹ, và chúng tôi phải cảm ơn mẹ vì điều đó.

Con người luôn khát khao thành công, nhưng mù quáng theo đuổi thành công thì thật là vô nghĩa. Bạn muốn mình giàu có, muốn trở thành tỷ phú như Bill Gates? Vậy thì hãy gấp đồng tiền một cách cẩn thận rồi trao nó cho bà cụ ăn xin bên đường. Với việc làm đẹp đẽ ấy, bạn sẽ cho mọi người hiểu được bạn không chỉ giàu có về vật chất mà còn giàu có tâm hồn. Khi đó, bạn đã thực sự thành công.

Cũng có khi bạn ước mơ thành công sẽ đến với mình như đến với Abramovich - ông chủ của đội bóng toàn những ngôi sao? Thành công chẳng ở đâu xa, chỉ cần bạn dành thời gian chăm sóc cho “đội bóng” của gia đình bạn. Ở đó, bạn nhận được tình yêu thương vô bờ bến, thứ mà Abramovich không nhận lại được từ những cầu thủ của ông ta. Thành công đến với mọi người một cách giản dị và ngọt ngào như thế!

Bạn được sinh ra, đó là một thành công vĩ đại của cha và mẹ. Trách nhiệm của bạn là phải gìn giữ cho vẻ đẹp hoàn thiện của thành công ấy. Đừng bao giờ ủ ê nghĩ rằng cuộc sống là một chuỗi của thất bại, bởi như một giáo sư người Anh từng nói: “Cuộc sống này không có thất bại, có chăng là cách chúng ta nhìn nhận mọi việc mà thôi.    
                                                                                           Tác giả: Hà Minh Ngọc

Howard Schultz, ông chủ của hãng cafe danh tiếng thế giới Starbuck là điển hình của mẫu tỷ phú vươn lên từ nghèo khó. Ngoài ra còn nhiều tỷ phú khác cũng phải lớn lên trong khu ổ chuột, phải khởi nghiệp từ đường phố.
Dưới đây là một số tỷ phú điển hình vươn lên làm giàu từ nghèo khổ trên thế giới.

1. Guy Laliberté

Tỷ phú người Canada này từng biểu diễn trò ảo thuật phun lửa trên đường phố trước khi mang gánh xiếc Cirque du Solei đến với thế giới. Mãi đến năm 1987, ông quyết định sẽ cược hết tiền bạc có được để mang gánh xiếc của mình đến Liên hoan nghệ thuật Los Angeles. Lần đánh cược đó đã mang lại kết quả, đoàn xiếc đã được mời đến Las Vegas biểu diễn và làm nên tên tuổi gánh xiếc trứ danh Cirque du Solei mà chúng ta vẫn biết đến ngày nay.

Giờ đây, Laliberté đang giữ chức giám đốc điều hành của Cirque với khối tài sản lên tớ 2,5 tỉ USD.

2. John Paul DeJoria

  Tỷ phú này từng phải sống trong xe ô tô trước khi công ty John Paul Mitchell Systems của ông khởi sắc. Thuộc thế hệ người Mỹ đầu tiên, DeJoria đã phải trải qua nhiều sóng gió từ lúc khởi nghiệp. Cha mẹ ly dị khi ông mới chỉ lên hai. DeJoria đã phải đi bán những tấm thiệp Giáng sinh và báo để giúp đỡ gia đình cho đến khi ông lên 10. Sau cùng, DeJoria được gửi đến trại nuôi dưỡng ở Los Angeles.

DeJoria từng hành nghề trộm cướp trong thời gian sống ở Los Angeles trước khi gia nhập quân đội. Sau khi thử sức mình với vai trò nhân viên ở Redken Laboratories, DeJoria vay một khoản tiền 700 USD và lập nên công ty John Paul Mitchell Systems. Tự ông đã đi chào hàng sản phẩm dầu gội đầu của công ty từ nhà này đến nhà khác, nay đây mai đó trên chiếc xe của mình. Tuy nhiên, chất lượng của sản phẩm là điều không thể phủ nhận. Giờ đâydoanh thu của JPM Systems lên tới 900 triệu USD hàng năm. DeJoria cũng sáng lập nên hãng Patron Tequila và có vai vế trong nhiều ngành công nghiệp, từ kim cương đến âm nhạc.

3. Ursula Burns
Ông Ursula Burns lớn lên trong một dự án phát triển nhà ở dành cho người có thu nhập thấp tại Manhattan"s Lower East Side. Giờ đây bà đang là người điều hành hãng Xerox.

Trước khi Manhattan"s Lower East Side trở nên thanh bình như hiện tại, nơi đây đã từng là thủ phủ của những tên trộm cướp. Người mẹ đơn thân đã một mình nuôi nấng Burns từ dự án phát triển nhà ở dành cho người có thu nhập thấp. Mẹ của Burns mở một trung tâm trông trẻ tại gia và dịch vụ là quần áo để có thể chu cấp cho việc học của Ursula tại trường công giáo. Bà thi vào trường Đại học New York và trở thành một thực tập sinh tại Xerox.
Hiện giờ, bà đang giữ chức Giám đốc điều hành và Chủ tịch hàng Xerox. Bà là người phụ nữ người Mỹ gốc Phi đầu tiên lọt vào danh sách Fortune 500.

4. Howard Schultz

Howard Schultz lớn lên ở Brooklyn trước khi thành lập nên thương hiệu Starbucks. Từ khu ngoại ô nghèo Canarsie, Brooklyn, Schultz luôn ao ước được bước ra khỏi những rào cản và lối sống mà người cha làm nghề lái xe ba gác hướng ông đi theo. Mặc cho cảnh thiếu thốn cơ cực, ông lại rất giỏi các môn thể thao và đã giành được học bổng bóng đá từ trường Đại học Nam Michigan.

Sau khi tốt nghiệp ra trường với tấm bằng nghành truyền thông, Schultz tiếp tục làm việc cho hãng Xerox trước khi tìm thấy một cửa hàng cà phê nhỏ có tên Starbucks. Với lòng đam mê cà phê, ông đã rời Xerox để trở thành Giám đốc điều hành của công ty Starbucks vào năm 1987. Khởi đầu với 60 cửa hiệu, cho đến nay, Starbucks đã có trên 16.000 đại lý trên toàn thế giới, mang lại cho Schultz lợi nhuận ròng 1,1 tỷ USD. Schultz đã có thời gian ngừng điều hành công ty và sau đó trở lại với vị trí Giám đốc điều hành, đưa thương hiệu này vượt ra khỏi thời kỳ sa sút.

5. Li Ka-sing

 Tỷ phú Trung Quốc từng bỏ học lúc 15 tuổi để đi làm ở một nhà máy sản xuất nhựa hiện đang là người giàu nhất khu vực Đông Á.

Gia đình Li Ka-sing rời bỏ Trung Quốc đại lục để đến Hồng Kông vào năm 1940. Cha ông mất vì căn bệnh lao phổi khi ông mới 15 tuổi. Li đã phải bỏ học để giúp đỡ gia đình, ông làm các sản phẩm nhựa và hoa nhựa xuất khẩu sang Mỹ.

Đến năm 1950, Li khởi đầu với công ty riêng của mình có tên Cheung Kong Industries. Ban đầu, công ty này chỉ sản xuất nhựa, về sau lấn sân sang thị trường bất động sản. Li cũng mở rộng quyền sở hữu của mình tới nhiều công ty khác và hiện đang có chân trong các lĩnh vực ngân hàng, điện thoại cầm tay, truyền hình qua vệ tinh, sản xuất xi măng, các thị trường bán lẻ, khách sạn, vận tải nội địa, hàng không, điện, sản xuất thép, cầu cảng và tàu thủy, và đầu tư vào các ứng dụng có tiềm năng trong các ngành khác.

6. Francois Pinault

Tỷ phú này cũng từng bỏ học nửa chừng hiện đang nắm giữ tập đoàn kinh doanh các mặt hàng cao cấp PPR. Pinault bỏ dở việc học tại trường trung học vào năm 1947 khi bị trêu chọc vì xuất thân nghèo hèn. Ông tham gia vào công việc kinh doanh gỗ của gia đình và bắt đầu mua lại các công ty nhỏ hơn từ thập kỷ 70. Những chiến thuật kinh doanh mạnh tay – bao gồm việc cắt giảm việc làm và bán chính công ty gỗ của mình để rồi sau đó mua lại với giá chỉ bằng một phần nhỏ chi phí ban đầu khi thị trường phá sản đã khiến ông nổi danh như một kẻ lợi dụng. Ông cũng dùng đến những kế sách tương tự trong công việc kinh doanh bất động sản và đã mua lại những cổ phiếu không mấy giá trị của Pháp và dùng tiền của chính phủ để cứu các công ty khỏi tình trạng phá sản.

Nhờ khối tài sản tự mình làm ra, Pinault đã lập nên PPR, tập đoàn chuyên kinh doanh các mặt hàng cao cấp như Gucci và Stella McCartney. Từng là người giàu nhất nước Pháp, gia tài của Pinault hiện lên tới 8,7 tỷ USD. Ông cũng sở hữu nhiều ngôi nhà cổ khắp thế giới và là bố chồng của nữ diễn viên Salma Hayek.

7. Leonardo Del Vecchio

  Leonardo Del Vecchio từng là một anh công nhân mồ côi, tuy nhiên, hiện ông đang nắm giữ đế chế kinh doanh kính mắt Ray-Bans và Oakleys Del Vecchio. Lớn lên từ một trại trẻ mồ côi, ông bắt đầu đi làm tại một phân xưởng sản xuất khuôn đúc cho các phụ tùng ô tô và khung mắt kính. Tại đây, ông đã bị tai nạn mất một phần ngón tay.

Ở tuổi 23, ông mở cửa hàng khung kính mắt, về sau phát triển thành hãng sản xuất kính mắt và kính thuốc lớn nhất thế giới. Luxottica đã tạo nên những thương hiệu nổi tiếng như Ray-Bans và Oakleys với 6.000 cửa hàng bán lẻ, điển hình như Sunglass Hut and LensCrafters. Tài sản ước tính của Leonardo Del Vecchio hiện đang là hơn 10 tỷ USD.

8. Kirk Kerkorian

  Kirk Kerkorian từng làm qua các nghề từ võ sĩ quyền anh, phi công trong Không lực Hoàng gia đến ông chủ của những khu nghỉ dưỡng nguy nga ở Las Vegas.

Kerkorian, cậu thanh niên học tiếng Anh trên đường phố đã bỏ dở việc học khi đang theo học lớp 8 để trở thành võ sĩ quyền anh. Gia đình Kerkorian là nạn nhân của cuộc Đại suy thoái. Kerkorian lên đường tìm kiếm kế sinh nhai để giúp đỡ gia đình.

Từ số tiền kiếm được, Kerkorian đã mở sòng bạc và trở thành ông trùm trong giới bất động sản ở Las Vegas: ông mua lại The Flamingo, xây thêm The International và MGM Grand, những công trình làm nên cảnh sắc ở LasVegas. Tài sản hiện có của Kerkorian lên tới 16 tỉ USD.

9. Sheldon Adelson

Sheldon Adelson là một ông trùm khác trong giới khách sạn ở Las Vegas, người từng thử sức mình ở rất nhiều công việc, ngành nghề khác nhau.

Lớn lên từ một căn hộ ở Massachusetts nơi ông phải ngủ chung trên chiếc giường duy nhất với bố mẹ và ba người anh em khác. Bố ông là một tài xế taxi người Lithuania và mẹ ông có một cửa hàng đan len. Khi 12 tuổi, Andelson bắt đầu đi bán báo. Ít năm sau, ông còn kết hợp thêm máy bán hàng tự động bán hàng ở góc phố.


Andelson thử sức mình qua một vài ngành từ đóng gói các vật dụng nhà tắm trong khách sạn đến môi giới cho vay thế chấp. Cơ may lớn nhất đến với Andelson từ việc mở một triển lãm máy tính. Tài sản có được ông mua lại Sands Hotel & Casino và sau đó là khu nghỉ dưỡng The Venetian.

10. Ingvar Kamprad

Ingvar Kamprad sinh ra trong một ngôi làng nhỏ ỏ Thụy Điển và tạo lập nên hãng kinh doanh bán hàng qua bưu điện, sau này trở thành IKEA. Kampard từng làm công việc đồng áng để kiếm sống nhưng ông luôn có tài lẻ kinh doanh, ví như mua diêm số lượng lớn từ Stockholm rồi bán lại cho hàng xóm, về sau chuyền sang cá, đồ trang trí Giáng sinh và bút.

Không thỏa mãn với những điều nhỏ nhặt đó, Kampard nhận một số tiền từ bố mình – phần thưởng cho việc học hành tấn tới để lập nên một công ty bán hàng qua bưu điện, tiền thân của hàng IKEA – thương hiệu lấy tên từ những chữ cái đầu của tên làng và nông trại của gia đình. Đồ gỗ là mặt hàng bán chạy nhất của công ty. Kampard tận dụng các nhà sản xuất tại địa phương để giữ giá bán thấp. Ông từng là người giàu nhất thế giới. Tài sản của ông gần đây có sụt giảm song vẫn rất ấn tượng với con số 6 tỷ USD.

11. Roman Abramovich

Roman Abramovich là một đứa trẻ mồ côi, người đã biến một món quà cưới đắt tiền thành một đế chế dầu lửa.

Sau khi cha mẹ qua đời khi mới chỉ lên 4, chàng trai người Nga Abramovich được người chú và bà nuôi nấng. Vận may đến với Abramovich khi nhận được món quà cưới xa hoa từ bên thông gia. Abramovich bỏ dở việc học ở đại học để theo đuổi niềm đam mê đối với công việc thầu khoán, từng bắt đầu bằng việc bán những con vịt bằng nhựa bên ngoài một căn hộ ở Moscow.

Năm 1995, Abramovich đã tiếp quản thành công công ty dầu mỏ Sibneft với một mức giá thỏa thuận. Ông tiếp tục đầu tư vào những vụ mua lại công ty lớn hơn bao gồm Russian Aluminum and nhà sản xuất thép Evraz Group. Qua nhiều năm, Abramovich từng bị buộc tội dính líu đến những phi vụ làm ăn mờ ám như đưa hối lộ và bảo kê liên quan tới những vụ việc xung quanh lò nấu kim loại. Dường như sự tàn nhẫn đã mang lại nhiều điều cho nhà tỷ phú này: ông hiện đang có trong tay phi thuyền cá nhân lớn nhất thế giới cũng như nhiều thứ đáng mơ ước khác.

12. Richard Desmond

Richard Desmond, lập nghiệp từ việc kiếm sống trong gara ô tô đã thiết lập nên một đế chế xuất bản tạp chí lớn mạnh như Penthouse.

Desmond là được mẹ nuôi nấng sau khi cha mẹ ông chia tay nhau. Hai mẹ con sống bên trên một gara ô tô. Đó là quãng thời gian mà Desmond tự mô tả về mình rằng anh béo phì và rất cô đơn. Bỏ học năm 14 tuổi để trở thành một tay trống, Desmond từng làm việc ở phòng giữ hành lý để có tiền chi trả các hóa đơn. Dù cho không giàu lên từ tài năng âm nhạc song về sau, ông cho mở những cửa hiệu thu âm riêng.

Sau cùng Desmond cho xuất bản cuốn tạp chí đầu tiên có tên International Musician and Recording World. Công việc xuất bản tạp chí mở mang ra các ấn phẩm khác như bản tiếng Anh của Penthouse và Ok! được yêu thích trên toàn cầu. Hiện ông đang sở hữu nhiều ấn phẩm trên khắp thế giới và tham gia nhiều hoạt động từ thiện.

13. J.K. Rowling
J.K. Rowling từng sống nhờ vào tiền trợ cấp trước khi nhượng quyền kinh doanh cuốn Harry Potter. Đầu những năm 90, Rowling vừa mới ly hôn và phải sống nhờ vào tiền trợ cấp với đứa con nhỏ. Bà hoàn thành phần lớn cuốn Harry Potter tập 1 trong quán cà phê.

Nhờ nhượng quyền kinh doanh cuốn Harry Potter, J.K. Rowling đã có khối tài sản ước đạt 1 tỷ USD.

14. Sam Walton

Trước khi Sam Walton thành lập nên Wal-Mart, ông từng phải đi vắt sữa bò và bán báo ở Oklahoma.

Gia đình của Walton sống nhờ vào nông trại ở Oklahoma trong thời gian xảy ra cuộc Đại suy thoái. Để có thể trang trải cho cuộc sống, Walton làm công việc vắt sữa bò và mang sữa đến tay khách hàng. Ông cũng kiêm việc đưa báo và bán báo đặt dài hạn.

Đến 26 tuổi, ông đã có trong tay nhiều cửa hiệu sau khi tốt nghiệp trường Đại học Missouri với tấm bằng cử nhân kinh tế. Với số tiền 5.000 USD và 20.000 USD vay bố vợ, Waltion mua lại cửa hiệu Ben Franklin ở Arkansas. Ông tiến hành mở mang chuỗi cửa hàng này và lập nên Wal-Mart và Sam’s Club. Ông qua đời năm 1992, để lại công ty cho vợ và các con quản lý.

15. Oprah Winfrey

Oprah Winfrey đã biến cuộc đời đầy gian khó của bản thân thành nguồn cảm hứng nghệ thuật với công việc kinh doanh trị giá nhiều tỷ USD.

6 năm đầu đời, Oprah sống cùng bà, người mặc những chiếc váy làm từ bao tải đựng khoai tây. 13 tuổi, Oprah đã bỏ nhà đi sau khi bị xâm hại tình dục. 14 tuổi, đứa con mới chào đời chết không lâu sau khi sinh. Oprah quay về sống với mẹ, nhưng phải đến khi mẹ gửi Oprah đến sống với cha thì cuộc sống của Oprah mới biến chuyển.

Bà nhận học bổng toàn phần của trường đại học, giành danh hiệu trong một cuộc thi sắc đẹp do một đài phát thanh phát tổ chức. Cái tên Oprah đã trở thành một đế chế. Theo tạp chí Forbes, tài sản của bà ước đạt 2,7 tỷ USD. Lan Trinh Theo Business Insider

Cách thức "Bà Tưng" tận dụng Facebook được nổi tiếng bị đánh giá là tiêu cực, nhưng việc cô gái này nhận ra những cơ hội lớn mà truyền thông mới mở ra là tích cực.
Ai cũng có thể lên tiếng
Một cô gái biệt danh "Bà Tưng" xuất bản một đoạn clip chỉ ngắn hơn một phút lên Facebook với hình ảnh chính mình "thả rông vòng một" nhảy múa trong phòng ngủ vào ngày 16/6. Sau chưa đầy hai tuần, chỉ trên Facebook của cô, đoạn clip được hơn 30.000 người thích, gần 3.000 người chia sẻ và hơn 8.000 bình luận.
Bằng đoạn clip trên và một vài nội dung câu khách khác, Facebook của cô đã có hơn 180.000 người theo dõi. Gần như toàn bộ các tờ báo điện tử và trang thông tin điện tử lớn nhỏ đều đưa tin và nhiều bình luận về hiện tượng "Bà Tưng" và đặt bài ở những vị trí quan trọng trên trang chủ, như một sự kiện ở... tầm quốc gia.
Việc một "Bà Tưng" chỉ với công cụ mạng xã hội và các kỹ thuật PR không phức tạp đã đủ làm huyên náo cả truyền thông chính thống lẫn phi chính thống đặt ra một vấn đề lớn hơn chuyện đạo đức của một cô gái, lớn hơn cả chuyện đạo đức của một nền báo chí khi đăng tải những thông tin như vậy. Đúng hay sai, tốt hay xấu thì một thực tế đã nảy sinh: ai cũng có thể lên tiếng và được lắng nghe trên truyền thông ngày nay, nếu biết tận dụng đúng kênh và đúng cách.
Giáo sư Henry Jenskin, Viện Đại học Công nghệ Massachussetts viết: "Thế giới chúng ta đang sống là nơi mà mỗi câu chuyện, mỗi hình ảnh, mỗi âm thanh, mỗi thương hiệu và các mối quan hệ đều được chảy trên tất cả các kênh truyền thông khác nhau, và dòng chảy ấy được định hình và quyết định từ phòng ngủ của các cô/cậu choai choai chẳng kém gì từ phòng họp của các tập đoàn truyền thông."
Ông đã đúng, quyết định tự khoe thân từ phòng ngủ của "Bà Tưng" đã khuynh loát truyền thông đại chúng, cho dù không có cuộc họp của ban biên tập tờ báo nào chỉ đạo phải đăng.
Bà Tưng, Facebook, truyền thông xã hội, nổi tiếng, hotgirl, nổi loạn

"Bà Tưng", cô gái khuynh loát truyền thông thời gian qua
Chỉ năm mười năm trước, một cô gái như "Bà Tưng" không có công cụ gì để được nổi bật một cách nhanh chóng như vậy.
Giờ đây, cô có Facebook. Nếu không có Facebook, cô vẫn còn YouTube. Nếu không có YouTube, cô có Pinterest, Instagram. Mất hết, cô lại có Blogspot, WordPress, Twitter, diễn đàn mạng và vô số các công cụ truyền thông tương tác khác mà thời đại Internet đang tiếp tục mở ra.
Một thời đại truyền thông mới với nhiều tên gọi khác nhau: thời đại tương tác, kỷ nguyên truyền thông tham gia, nền văn hoá tích hợp. Cho dù ở tên gọi nào thì đặc điểm cơ bản vẫn là: quần chúng không còn là những độc giả bị động nữa, mà chủ động tham gia quá trình chọn lọc, sản xuất, bình luận và phát tán nội dung thông điệp.
"Không nên vì bị nghẹn mà bỏ ăn cơm"
Ở thời đại báo in, độc giả chỉ có quyền đọc lặng lẽ. Ở thời đại phát thanh, thính giả chỉ có quyền nghe lặng lẽ. Ở thời đại truyền hình, khán giả chỉ có quyền xem lặng lẽ.
Thời đại Internet phá vỡ mọi lặng lẽ. Độc giả sẽ không còn chịu "ngồi im" nữa để nghe báo đài muốn phát gì thì phát, nói gì thì nói, viết gì thì viết. Giờ đây, họ "nổi loạn" bằng những bình luận trên mạng. Không chỉ bình luận, họ tự sản xuất nội dung và xuất bản trên vô số kênh đa dạng.
Quá trình truyền thông không còn là sự phát tán một chiều, mà giờ đây là sự tương tác hai chiều và đa chiều. Kỷ nguyên dân chủ hoá thông tin được nhà nghiên cứu truyền thông Joshua Meyrowitz nhận định từ năm 1985 đã mở ra, cho phép "những người thấp nhất trong nấc thang xã hội cũng có thể tiếp cận với lượng thông tin lớn" và "tăng cường các cơ hội để thông tin được chia sẻ theo chiều ngang" thay vì phải đi qua các kênh phát chính thống theo chiều dọc.
Báo chí chính thống không còn cách nào khác ngoài phối hợp và tận dụng các công cụ truyền thông mới, về cả kỹ thuật lẫn nội dung, để tự làm mới mình, tránh rơi vào thế yếu so với sự bùng nổ của mạng xã hội. Sự hội nhập này thể hiện trong sự kiện "Bà Tưng" khi báo chí lấy thông tin từ mạng xã hội và ngược lại mạng xã hội phát tán lại các đường link từ báo chí. Quá trình này được nhà nghiên cứu truyền thông Henry Jenskin gọi là nền văn hoá tích hợp, trong đó truyền thông là sự kết hợp giữa "cả quá trình định hướng từ trên xuống của cơ quan truyền thông và định hướng từ dưới lên của người tiêu dùng".
Sự kiện "Bà Tưng" dù bị đánh giá tiêu cực cũng là một chỉ dấu tiếp nữa cho thấy làn sóng dân chủ hoá và tích hợp thông tin đã lan toả tới Việt Nam, và sẽ tiếp tục lan toả mạnh trong thời gian tới. Làn sóng này có thể mang tới những đặc điểm tiêu cực như sự sai lệch hay bóp méo thông tin, sự phân cực và đối kháng trong bình luận, sự nổi lên của giật gân và lá cải...
Mất kiểm soát và phi tiêu chuẩn là những đặc trưng được đánh giá là thiếu tích cực của giai đoạn truyền thông mới hiện nay. Tuy vậy, cố tình ngăn chặn làn sóng ấy là bất khả, bởi nó có quy mô toàn cầu và sức mạnh hoàn toàn không kém gì sự xuất hiện của báo in hay TV vào thế kỷ trước.
Thay vì tìm cách ngăn chặn, những nhà quản lý, những người làm truyền thông và cả người tiêu dùng có thể khai thác triệt để những lợi điểm chưa từng có của truyền thông mới. Facebook không nên được nhìn nhận như một hiểm họa, mà ngược lại là kênh tiếp thị cực rẻ và hiệu quả cho doanh nghiệp và tổ chức.
Thay vì bôi bác "Bà Tưng", doanh nghiệp và tổ chức có thể đặt câu hỏi liệu có cách nào không để qua Facebook sản phẩm và dịch vụ của mình có thể được công chúng biết tới nhanh như thế, và rẻ như thế. Thay vì bỉ bai "Bà Tưng", các nhà hoạt động xã hội có thể tự hỏi liệu có cách nào để tiếng nói của họ được lắng nghe rộng rãi như thế thông qua truyền thông mới.
Các nhà quản lý phải cưỡi lên ngọn sóng dân chủ hoá thông tin này, thay vì đi ngược lại dòng chảy của nó. Bởi nói như Đặng Tiểu Bình khi đối mặt với những biểu hiện tiêu cực của quá trình đổi mới Trung Quốc vào những năm 80 của thế kỷ trước: "Không nên vì bị nghẹn mà bỏ ăn cơm".
                                                                                                   nguồn:   Khánh Duy Vietnamnet

Các doanh nhân thực sự vĩ đại thường không thỏa mãn với sự an toàn. Chinh phục các giới hạn là cách họ trở nên vĩ đại
 

Mọi người đều có cái gọi là “vùng an toàn”. Bạn biết là tôi đang nói về không gian tinh thần mà bạn đang sống, nơi có những hàng rào và bạn sẽ cảm thấy an toàn về mặt cảm xúc với công việc và việc ra quyết định của mình.

Những người thành công khác những người khác ở cách họ làm với vùng an toàn của họ. Có những người khá hài lòng khi được ở trong chiếc hộp an toàn ấm áp và ấm cúng mà họ tạo nên và cũng có những người luôn có sự thôi thúc thử thách mọi giới hạn.

Bạn đã biết người nào sẽ tiếp tục trở thành một doanh nhân thành công rồi đấy.

Tôi không cho rằng vùng an toàn là một điều xấu. Bởi vì nó tồn tại là để bảo vệ chúng ta.  Nếu không tất cả chúng ta sẽ đều nhảy khỏi các vách đá và máy bay. Vùng an toàn cũng tránh cho chúng ta phải chịu đựng thêm căng thẳng và lo âu. Nhưng xét cho cùng các thói quen thân thuộc trong vùng an toàn của bạn sẽ kìm hãm bạn học hỏi và trải nghiệm những điều mới hứa hẹn là sẽ tốt cho chúng ta. Nó cũng ngăn cản bạn tạo dựng một công việc kinh doanh thịnh vượng.

Vậy làm thế nào để bạn biết được lúc nào thì vùng an toàn đang kéo bạn thụt lùi? Dưới đây là một vài điều bạn có thể nhận thấy:

•    Căng thẳng quá mức
•    Buồn chán
•    Tự chỉ trích bản thân
•    Ghen tị
•    Lo lắng về hoàn cảnh của mình
•    Quá nhiều lời bào chữa!
•    Công việc đình trệ hoặc thất bại

Bạn thấy những triệu chứng trên khá giống với mình? Vậy đây là lúc trải rộng vùng an toàn. Hãy thử những bước đi chập chững sau và xem thế giới của bạn vươn lên thế nào.

Chấp nhận rằng bạn kém hoàn hảo

Bạn có ngại những điều mọi người nghĩ về mình hoặc ngại làm người khác thất vọng? Thường những “nguyên tắc” về cách cư xử mà chúng ta tạo ra để những người khác chấp nhận mình đều là những tiêu chuẩn tự áp đặt và cao một cách kỳ cục. Hãy làm điều gì đó điên rồ một chút. Hãy làm điều vui nhộn nào đó như nhảy múa trong khu thương mại hoặc hát karaoke. Phá vỡ những ảo ảnh về sự hoàn hảo và hòa nhập với phần còn lại của thế giới.

Xô đổ rào cản sợ hãi

Bạn thực sự e ngại điều gì? Hãy lên danh sách tất cả những điều bạn sợ từ sợ nhện cho tới sợ phá sản. Và giờ thì hãy lập nên một kế hoạch đối mặt với từng nỗi sợ một. hãy bắt đầu từ thứ nhỏ nhất. Ví dụ, nếu bạn có một sự ám ảnh nào đó, hãy tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài để loại bỏ nó. Các phương pháp làm chủ cảm xúc (the  Emotional Freedom Techniques) có thể chữa trị nhiều nỗi ám ảnh. Hãy loại bỏ từng nỗi sợ hãi của bạn ra khỏi danh sách, từng nỗi sợ một và ăn mừng sau mỗi lần thành công.

Tìm một đối tác

Có những việc bạn không thể làm một mình được. Hơn hai năm trước, tôi đã có một giấc mơ sẽ tổ chức và trình bày tại một hội nghị về quyền lực của giới nữ. Nhưng đó mãi chỉ là một giấc mơ không hơn không kém. Rồi đến một ngày kia, thầy hướng dẫn nói với tôi rằng: “đó là điều anh không thể tự mình thực hiện được”, cuối cùng tôi cũng hiểu ra. Tôi cần một đối tác để cùng thực hiện nỗ lực này. Tất nhiên là tôi đã tìm thấy một người trong vòng một tuần và điều tôi mong muốn sẽ diễn ra vào tháng 9 năm nay. Thật là tuyệt vời và thú vị khi tạo ra được một sự kiện như vậy và chắc chắn là tôi đã vượt qua vùng an toàn của mình. Nhưng vì tôi không còn đơn độc trong cuộc phiêu lưu nhỏ này, tôi vẫn cảm thấy an toàn.

Có điều gì bạn muốn nhưng không thể làm một mình không? Hãy tìm một người bạn thân và cùng làm với họ.

Tháo gỡ và chấp nhận

Vùng an toàn sẽ giữ bạn ở trong một không gian rất dễ tiên đoán: Bạn thường biết chính xác điều gì đang xảy ra. Nỗi sợ hãi về điều không biết đến sẽ khiến bạn mãi mãi bế tắc. Vậy, thủ thuật ở đây là hãy buông bỏ những dự tính của bạn và chấp nhận kết quả các hành động của bạn. Hãy mạo hiểm trong một chừng mực nhất định. Nếu bạn đang thiết kế một chương trình tư vấn mới hoặc tung ra một sản phẩm mới thì hãy làm việc đó từng chút một. Đừng ôm đồm để rồi liều lĩnh đánh mất tất cả. Hãy đánh bạc với những điều bạn sẵn sàng để mất. Những mất mát đó sẽ dạy bạn điều gì đó, chẳng hạn như cách làm sản phẩm tốt hơn hoặc tiếp thị nó theo cách khác. Hãy trông đợi vào kết quả, dù tốt hay xấu.

Tụ tập với ai đó hoàn toàn khác biệt 

Thường thì chúng ta sẽ lựa chọn bạn bè và “cạ” có những đặc điểm giống với chúng ta. Hãy thử chơi với ai đó “điên rồ” hơn bạn. Chọn công ty có những người dám vượt rào sẽ đưa bạn tới vùng đất phiêu lưu. Hãy mở lòng và đón nhận lợi ích của việc dám làm.

Tưởng tượng là mình thành công 

Nếu bạn dành ra vài phút mỗi ngày hình dung thành công của mình, bạn sẽ trở nên sẵn sàng mạo hiểm hơn. Hãy để não bạn nghỉ ngơi và mơ mộng một chút. Bạn sẽ rất ngạc nhiên về kết quả.

Giờ hãy tiến lên và phá vỡ những nguyên tắc ngớ ngẩn đó và nhớ cho tôi biết về thành công của bạn nhé.
(Dịch từ Inc)

Với tư cách là đối tác và cũng là đối thủ của nhau, Bill Gates và Steve Jobs đã xây dựng nên ngành công nghiệp máy tính cá nhân với hai phong cách hoàn toàn khác biệt.
Steve Jobs xuất thân là một cậu bé thuộc tầng lớp lao động từ bang California, một người tin tưởng vào sự kiểm soát chặt chẽ đối với tất cả mọi sản phẩm, và đề cao vai trò của thiết kế. Trong khi đó, Bill Gates lớn lên trong tầng lớp khá giả ở Washington, là một người tin vào những sản phẩm mở, và chẳng mấy để tâm tới chuyện thiết kế sản phẩm như thế nào.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh 
Trong cuốn tiểu sử Steve Jobs của Walter Isaacson, cựu nhân viên Andy Hertzfield của Apple tiết lộ rằng, Steve Jobs và Bill Gates “ai cũng cho là mình thông minh hơn người kia. Nhưng nhìn chung, Steve xem Bill là một người kém hơn mình một chút, nhất là về phương diện nhãn quan và phong cách. Bill thì coi thường Steve vì Steve thực ra không biết lập trình”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Bill Gates: Steve Jobs “về cơ bản là kỳ quặc” và “có vấn đề không bình thường với tư cách là một con người”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Steve Jobs nói về Bill Gates: “Ông ấy lẽ ra đã là một người phóng khoáng hơn nếu bớt chua ngoa hoặc tới sống trong đền thờ từ khi còn trẻ”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Bill Gates nói về Steve Jobs: “Ông ấy thực sự chẳng bao giờ biết gì nhiều về công nghệ, nhưng ông ấy có một bản năng tuyệt vời về những thứ đem lại hiệu quả”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Steve Jobs: “Bill về cơ bản không có khả năng tưởng tượng và chưa bao giờ phát minh ra thứ gì. Đó là lý do vì sao tôi cho rằng bây giờ ông ấy cảm thấy thoải mái với việc làm từ thiện hơn là với công nghệ”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
“Ông ấy nẫng tay trên ý tưởng của người khác mà chẳng biết ngượng”, Steve Jobs nói về Bill Gates.
Steve Jobs thường xuyên đưa ra cách nhìn này về Bill Gates. Ông còn nói: “Họ lấy toàn bộ ý tưởng của chúng tôi, vì Gates không biết xấu hổ”.
Bill Gates đáp lại: “Nếu ông ấy điều đó, ông ấy đúng là đã xuyên tạc sự thật”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Vào năm 1996, khi Apple cân nhắc chuyện mua NeXT, công ty máy tính của Steve Jobs, Bill Gates đã lên tiếng “chê bai” công ty này và cả Steve Jobs.
Bill Gates đã nói với CEO của Apple khi đó là Amelio rằng: “Anh thực sự nghĩ Steve Jobs có gì ở đó cơ chứ? Tôi biết công nghệ của ông ta, chẳng qua chỉ là một hệ điều hành UNIX được “hâm nóng lại”, và anh sẽ chẳng bao giờ có thể khiến nó hoạt động được trên những chiếc máy của anh đâu. Anh không hiểu là Steve chẳng biết gì về công nghệ sao? Anh ta chỉ là một tay bán hàng siêu hạng. Tôi không thể tin là anh lại đưa ra một quyết định ngớ ngẩn đến vậy… Anh ta không biết gì về kỹ thuật, và 99% những gì anh ta nói và nghĩ là sai. Không hiểu anh đi mua lại NeXT để làm quái gì cơ chứ?”
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Trong một bức email nội bộ, Bill Gates viết: “Khả năng của Steve Jobs tập trung vào một vài thứ làm nên chuyện, tập hợp được những nhân sự làm việc chuẩn xác về giao diện, và quảng bá sản phẩm như thể đó là những thứ mang tính cách mạng là những điều tuyệt vời”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Bill Gates trao đổi nội bộ về iPod: “Tôi nghĩ, chúng ta cần có một kế hoạch nào đó để chứng tỏ rằng, cho dù có hơi chậm hơn Jobs một chút, thì chúng ta vẫn có thể phản ứng nhanh, đuổi kịp và cho ra những sản phẩm tốt hơn”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Tại hội nghị công nghệ D5, Bill Gates nói: “Tôi sẵn sàng đánh đổi nhiều thứ để có được nhãn quan của Steve”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Bill Gates nói về iPad: “Đây là một thiết bị khá, nhưng chẳng có gì trên chiếc iPad khiến tôi phải ngắm nghía và thốt lên rằng: "Ồ, tôi ước gì Microsoft cũng làm được thế này”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Steve Jobs nói về Microsoft: “Chẳng có nhãn quan gì cả”
“Vấn đề duy nhất đối với Microsoft là họ chẳng có nhãn quan gì cả, họ hoàn toàn không có nhãn quan. Ý tôi không nói đến một phương diện nhỏ, mà là một phương diện lớn. Họ không nghĩ đến những ý tưởng nguyên bản và họ không mang tới nhiều văn hóa cho sản phẩm của họ”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Khi nói về những mô hình đóng như Apple, Bill Gates nhận xét: “Mô hình đóng hoạt động hiệu quả khi Steve lãnh đạo. Nhưng điều đó không có nghĩa là cách làm này sẽ hiệu quả trong tương lai”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Còn Jobs nhận xét về mô hình mở của Microsoft: “Dĩ nhiên, mô hình manh mún của ông ấy hoạt động, nhưng chẳng tạo ra sản phẩm thực sự tuyệt vời nào. Mô hình đó chỉ tạo ra những sản phẩm dở tệ”.
“Khẩu chiến” Bill Gates và Steve Jobs, Doanh nhân, Tài chính - Bất động sản, Steve Jobs, Bill Gates, Apple, cong nghe, phat minh
Steve Jobs nói về Microsoft ngày nay: “Rõ ràng họ đã tuột khỏi ngôi vị thống trị. Họ đã trở nên gần như không còn hợp thời nữa… Tôi không nghĩ là điều gì có thể thay đổi ở Microsoft chừng nào Ballmer còn điều hành công ty này”.
Theo An Huy (Vneconomy
)